Văn hóa-Nghệ thuật

Nghệ thuật Cải lương: Sản phẩm của lòng ái quốc và tinh thần dân tộc

Tại Hội nghị văn hóa ở Việt Bắc năm 1950 thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nghệ thuật Cải lương từng bị một số người lên án là sản phẩm tiêu cực, suy đồi của giai cấp tư sản và tiểu tư sản, một thứ thuốc phiện văn hóa được thực dân phong kiến sử dụng làm bạc nhược tinh thần nhân dân để dễ cai trị đất nước ta.

Quan điểm cực đoan thô thiển đó không được đồng tình, nghệ thuật Cải lương vẫn được phục hồi và phát triển tại các vùng kháng chiến cả ở hai miền Nam Bắc, đóng góp đắc lực vào thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Pháp. Tuy vậy, quan niệm này vẫn là định kiến tồn tại dai dẳng trong một số người và đầu những năm 1960 lại bùng nổ trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa khi tranh luận về việc phục hồi và phát triển nghệ thuật Cải lương nhưmột bộ môn của nền sân khấu cách mạng xã hội chủ nghĩa. Định kiến này biến tướng thành quan điểm coi nghệ thuật Cải lương là loại sân khấu duy cảm, yếu đuối ủy mỵ, bi lụy, u sầu không thích hợp với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa văn nghệ mới con người mới xã hội chủ nghĩa. Song song với định kiến trên là định kiến miệt thị nghệ thuật Cải lương là thứ sân khấu bình dân dễ dãi, lai tạp, “đầu Ngô mình Sở”, nhưmột loại melodram tiêu cực trong nghệ thuật phương Tây, thiếu một cơ sở mỹ học, xã hội học, dân tộc học vững chắc, cấp độ nội dung và nghệ thuật thấp kém. Thực tế lịch sử phát triển cùng những thành tựu không thể phủ nhận của nghệ thuật Cải lương trong gần 100 năm qua đã bác bỏ những định kiến sai lạc này.

Cảnh trong vở “Cung phi Điểm Bích” - Ảnh: T.T

Không phải ngẫu nhiên mà học giả Vương Hồng Sến trong cuốn sách “Năm mươi năm Cải lương” đã nhận định: “Nếu tôi không lầm thì buổi sơ khởi của Cải lương là do lòng ái quốc mà nên” .Cụ Vương Hồng Sến đã không lầm. Đó là một nhận định khách quan. Thực tế hình thành nghệ thuật Cải lương những năm đầu thế kỷ XX đã minh chứng cho nhận định đúng đắn trên của bậc học giả lớn của đất phương Nam.

Từ Đờn ca tài tử phát triển thành Ca ra bộ, hát chập rồi những vở Cải lương đầu tiên “Lục Vân Tiên” và “Kim Vân Kiều” của Trương Duy Toản là quá trình các trí thức yêu nước và người dân Nam bộ sáng tạo một hình thức sân khấu mới có khả năng thu hút quần chúng rộng rãi không chỉ nhưmột hình thức giải trí đơn thuần mà là một công cụ hữu hiệu để truyền bá tư tưởng yêu nước và tinh thần dân tộc. Trách nhiệm công dân, trách nhiệm

xã hội đã là một thuộc tính của bộ môn sân khấu mới ở vùng đất mới của đất nước ngay từ buổi sinh thành. Cần nói thêm là ngay khi nghệ thuật Cải lương vừa hình thành, các thế lực thống trị thực dân phong kiến từng muốn nắm lấy bộ môn sân khấu non trẻ này phục vụ cho chúng nhưtoàn quyền Albert Sarraut đã cho một số công chức trong bộ máy của chúng lập ra một gánh hát dạo từ các rạp hát Tây ở Sài Gòn đến lục tỉnh hát các tuồng “Gia Long tấu quốc”, “Pháp Việt nhất gia”…nhưng gánh hát tay sai ấy chỉ tồn tại được vài tháng thì tan rã vì không được dân chúng ủng hộ trong khi các gánh hát do các trí thức và nghệ sĩ yêu nước lập nên với các tuồng tích mang tưtưởng yêu nước và tinh thần dân tộc lại đua nhau xuất hiện nhưnấm sau mưa trong sự ủng hộ nồng nhiệt của người dân Sài Gòn và lục tỉnh.

Nhưvậy, ngay từ buổi bình minh của mình, những người sáng tạo và công chúng của nghệ thuật Cải lương đã gặp nhau trên cũng một nền tảng: lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Và nền tảng ấy trở thành động lực lớn lao, bền vững giúp Cải lương phát triển mạnh mẽ trong lòng dân tộc cho đến ngày hôm nay.

Trong những năm dưới chế độ thuộc địa, thời kỳ những năm 1920 - 1930, các kịch bản Cải lương cổ trang dựa vào tích truyện Việt Nam hay Trung Hoa đều có nội dung ca ngợi những con người tận trung, tận hiếu, vì nghĩa quên thân theo đạo lý truyền thống Việt Nam. Thời kỳ những năm 1930 - 1945, sự xuất hiện các kịch bản tuồng Cải lương xã hội mang tính hiện thực, phản ánh sự hình thành xã hội Âu hóa thuộc địa và những mâu thuẫn tiềm tàng của nó, một mặt phê phán các thói tục mới trái với đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc, một mặt thể hiện ý thức dân chủ mới, công khai đòi

quyền sống, quyền hưởng tình yêu và hạnh phúc cho con người, bênh vực những người cùng khổ, chống lại những bất công xã hội, sự thống trị của đồng tiền và cường quyền. Các kịch bản tiêu biểu của soạn giả Nguyễn Thành Châu, nhất là hai kịch bản “Đời cô Lựu” và “Tô Ánh Nguyệt” của soạn giả Trần Hữu Trang, là những tiếng nói phủ nhận quyết liệt xã hội thực dân phong kiến thuộc địa, một xã hội đã cướp hết quyền sống, quyền hưởng tình yêu hạnh phúc của con người, thực sự là những kịch bản Cải lương mang tính cách mạng trong dòng Cải lương tâm lý xã hội thời trước Cách mạng tháng Tám.

Cảnh trong vở “Yêu là thoát tội”

Truyền thống yêu nước, tinh thần dân tộc sâu sắc đã giúp nghệ thuật Cải lương dễ dàng tiếp nhận ánh sáng lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng, Bác Hồ và hào hứng bước vào hai cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ tổ quốc của toàn dân tộc do Đảng ta và Bác Hồ lãnh đạo. Từ sau cách mạng tháng Tám, cùng với các bộ môn văn nghệ khác, nghệ thuật Cải lương trở thành vũ khí sắc bén của Đảng và nhân dân ta trong sự nghiệp cách mạng. Hiện thực cách mạng, chủ nghĩa anh hùng cách mạng trở thành nguồn cảm hứng chính và là nội dung chủ yếu của nghệ

thuật Cải lương các vùng kháng chiến, giải phóng và trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa thời kỳ từ năm 1945 đến 1975. Ở các vùng bị tạm chiếm, nghệ thuật Cải lương cũng thể hiện sự bất khuất truyền thống, bằng nhiều hình thức vẫn gắn mình vào sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, một số cơ sở Cải lương trở thành thành trì của cách mạng ngay trong lòng địch. Các nghệ sĩ Cải lương luôn tự hào là ngay giữa nanh vuốt và sự o ép mọi mặt của kẻ thù, nghệ thuật Cải lương không hề a dua theo chúng, không hề có một kịch bản Cải lương nào mang nội dung tố cộng phản động suốt mấy chục năm sống trong lòng địch, ngược lại, nhiều kịch bản Cải lương ca ngợi lịch sử chống ngoại xâm, ca ngợi những anh hùng dân tộc vẫn ra đời và những kịch bản Cải lương cổ trang “Hương xa”, “Đường rừng” hay các kịch bản tâm lý xã hội trong chừng mực nào đó vẫn thể hiện được truyền thống yêu nước, tinh thần nhân văn độc đáo của dân tộc.

Sau năm 1975, cách mạng giải phóng dân tộc toàn thắng, đất nước thống nhất cùng bước vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tưtưởng yêu nước, tinh thần dân tộc và trách nhiệm xã hội của nghệ thuật Cải lương được nâng cao thêm một bước. Ca ngợi lịch sử dựng nước và giữ nước hào hùng qua mấy nghìn năm lịch sử cùng các chiến công vĩ đại, chủ nghĩa anh hùng của quân và dân ta trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và chống Mỹ cũng như công cuộc xây dựng đất nước đầy khó khăn, gian khổ, thách thức là nội dung chính của nghệ thuật Cải lương cả nước giai đoạn này.

Nhưvậy, chúng ta hoàn toàn có quyền khẳng định: về cơ bản, nghệ thuật Cải lương, bộ môn sân khấu phát triển mạnh mẽ nhất, được công chúng cả nước ưa thích nhất, là sản phẩm tuyệt vời được sản sinh ra từ lòng yêu nước, tinh thần dân tộc và trách nhiệm xã hội của một bộ phận trí thức tiến bộ và nhân dân Nam bộ từ trong lòng chế độ thực dân phong kiến. Trong hành trình xây dựng phát triển Cải lương đã tích tụ trong nó nội dung yêu nước, tinh thần dân tộc phong phú và sâu sắc, trở thành một bảo tàng sống của lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, của sự nghiệp dựng nước và giữ nước, luôn song hành và đóng góp đắc lực cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất nước, trở thành di sản văn hóa văn nghệ hết sức quý giá, góp phần làm nên hồn cốt dân tộc, cần được bảo vệ gìn giữ cho hôm nay và mai sau.

NGUYỄN THẾ KHOA

NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN Tháng 7 - 2011


Trang thông tin Điện tử Cục Nghệ thuật biểu diễn - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
 

Địa chỉ: Số 32 Nguyễn Thái Học - Ba Đình - Hà Nội;
Tel: (84-4) 3854 5348     Fax: (84-4) 3823 1222
Email: ntbd@cucnghethuatbieudien.gov.vn
Ghi rõ nguồn khi phát lại thông tin từ website này.

Thư viện ảnh

Liên hệ & Góp ý